Giới thiệu
Du khách thăm chùa Đậu có thể lên xe bus số 06 tuyến Giáp Bát—Phú Xuyên rồi xuống ở bến Quất Động. Rẽ hướng tây vào Khu Công nghiệp Quất Động đi 1,7km sẽ gặp một con kênh nước lặng lờ và ngôi miếu nhỏ dưới gốc đa. Rẽ trái đi tiếp sẽ qua đình rồi tới chùa. Ghé thăm nhanh đình và miếu làng Đậu, chúng tôi thấy cả hai đều mang phong cách kiến trúc cuối thời Nguyễn.
Chùa Đậu ở cuối làng, trông cổ kính hơn. Đại Đức trụ trì Thích Thanh Nhung cho biết: Sĩ Nhiếp lập chùa từ đầu thế kỷ 3, đặt tên Thành Đạo tự, rước Đại Thánh Pháp Vũ Đại Bồ Tát về thờ, nên gọi là Pháp Vũ tự. Nhưng tấm bia đặt ở đầu nhà giải vũ bên trái thì nói rõ chùa được xây dựng vào thời Lý.[1]
Đạo Phật khi mới từ Ấn Độ truyền vào nước ta có đem theo việc thờ Tứ pháp (4 vị thần mây, mưa, sấm, chớp), di tích nay còn ở chùa Dâu, tức Pháp Vân tự (Luy Lâu, Bắc Ninh). Tại chùa Đậu hiện có cuốn sách bằng đồng được cho là của Sĩ Nhiếp (137—226), nhưng rất lạ là trong đó lại chép thơ bằng thể Đường luật (thế kỷ 7) và với văn phong thậm chí như muộn hơn hàng nghìn năm.
Theo "Sách đồng", chùa Đậu được xây dựng vào thế kỷ 3, cách đây gần 2000 năm. Chùa đã được nhiều đời vua chúa sau đó sửa chữa, tôn tạo. Tấm bia dựng năm 1639 (niên hiệu Dương Hoà thứ 5, đời vua Lê Thần Tông) cho biết ngôi chùa này được tôn tạo dưới triều nhà Lý. Ngoài ra trong chùa còn nhiều viên gạch to thời nhà Mạc và một số bia có niên hiệu Sùng Khang (1566—1577). Cũng theo văn bia, chùa được trùng tu lớn vào năm 1635 (Dương Hoà thứ 1). Sử sách ghi lại ngày xưa chùa Đậu được phong tặng là "Đệ nhất đại danh lam" và chỉ dành cho các bậc vua chúa đến đây lễ bái, cầu an, dân không được vào, vì vậy còn có tên chùa Vua.
Kiến trúc
Trước mặt chùa Đậu ở hướng đông-nam có một hồ bán nguyệt lớn nối với cổng chính Tam quan bằng con đường ngắn mới làm, hơi lệch chính đạo. Hai cổng phụ cách nhau khoảng 15m, ở giữa là một phương đình hai tầng với những cột lim dựa trên trụ đá. Tầng dưới xây nền cao, chừa ra một lối vào thấp gần bằng mặt sân; có 4 cặp cửa sổ đối xứng ở 4 mặt và hai cửa đi ngang cao 4 bậc. Gian bên trái phương đình có cầu thang gỗ để lên tầng gác, nơi treo quả chuông đúc năm 1801 (Cảnh Thịnh thứ 9, thời Tây Sơn). Trên đỉnh là tám mái ngói lá đề với các đầu đao truyền thống.
Khuôn viên chùa khá lớn, được xây theo kiểu "nội công ngoại quốc". Qua cổng là một sân gạch rộng, có 3 thềm đá 6 bậc lên hiên Tiền đường, hai bên sân có hai tòa giải vũ. Tiền đường rộng 7 gian, nối liền với hai dãy hành lang và nhà Tổ làm thành một khung vuông bao bọc lấy tòa thiêu hương và điện thờ nữ thần Pháp Vũ. Vườn tháp mộ nằm ở phía sau. Các góc sân, vườn đều trồng cây nhưng nay chỉ còn sót lại vài cổ thụ.
Chùa Đậu hiện nay vẫn giữ được 6 bia đá khắc từ thế kỷ 16-18. Tấm bia “Pháp Vũ tự tạo lệ bi” cho biết nhà sư trụ trì Đạo Tâm từng giữ chức Tăng lục ty Tăng thống, một vị trí cao trong giới Phật giáo lúc bấy giờ. Trong chùa còn treo hai tấm biển gỗ sơn son thếp vàng, khắc bài thơ chữ Nôm của chúa Trịnh Căn (1682—1709) và chúa Trịnh Cương (1709—1729). Lại có đôi rồng đá và chiếc khánh đồng đúc năm 1774 với bài minh soạn bởi danh sĩ đời vua Lê Hiển Tông là Phan Trọng Phiên.[2]
Tượng nhục thân
Trong chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật. Du khách chú ý nhất bộ tượng Tổ được tạo bằng cách bó sơn ta rồi quang dầu ra ngoài thi hài của hai thiền sư Đạo Chân và Đạo Tâm. Hai vị vốn là chú cháu ruột tu đắc đạo ở chùa vào thế kỷ 17, toàn thân đã hoá thành xá lợi do trai tịnh và toạ thiền lâu ngày trước khi chết.
Tượng Đạo Chân Vũ Khắc Minh cổ hơn nhưng bảo quản rất tốt. Nhục thân đã được bó, hom, lót, thí, mài theo các kỹ thuật truyền thống rồi thếp với các nguyên liệu như sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất. Tổng số lớp sơn và thếp vàng là 14 lớp. Trước khi tu bổ, tượng nặng 7kg, nay nặng 7,5kg.
Pho tượng Đạo Tâm Vũ Khắc Trường từng bị hỏng nặng vào khoảng năm 1983 do ngập nước trong trận lụt lớn. Tượng hồi đó được gia cố bằng đồng. Khung xương nay đã được các nhà khoa học sắp xếp đúng vị trí hơn và phủ bằng nhựa PVC rồi toàn tượng bao kín bằng sơn ta, giấy bản, vải màn, mạt cưa, đất và thếp bạc, chỗ dày nhất tới 22 lớp. Tượng sau khi phục chế nặng 31kg.
Di tích lân cận
- Chùa Pháp Vân: QL1A, thị trấn Thường Tín.
- Chùa Kim Đống: QL1A, thôn Nguyên Hanh, xã Văn Tự, huyện Thường Tín.
- Đình Nghiêm Xá: thôn Nghiêm Xá, xã Nghiêm Xuyên, huyện Thường Tín.
- Miếu làng Khoai: QL1A, làng Khoai, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín.
Bản đồ trực tuyến
Chú thích
[1] Khổ bia 120 x 80 cm. Văn bia có bài minh 56 câu do Thám hoa khoa thi Tân Mùi (1631) là Nguyễn Thọ Xuân soạn. Vài dòng chữ bị đục trước phần ghi tác giả ở mặt sau (ông người xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh, phù Nam Sách, nay thuộc Hải Dương). Nét chữ khắc phóng khoáng, dòng cuối cùng ghi: “Gia Phúc xã trụ trì bản tự tăng Vũ Khắc Trường tự Đạo Tâm thư” (Sư trụ trì chùa ở xã Gia Phúc là Vũ Khắc Trường, tên Đạo Tâm, viết chữ).
[2] Phan Trọng Phiên (1735—1798) tên thật là Phan Văn Độ và Phan Lê Phiên, quê làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP Hà Nội).
[2] Phan Trọng Phiên (1735—1798) tên thật là Phan Văn Độ và Phan Lê Phiên, quê làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP Hà Nội).
NCC Đông Tỉnh
Hà Nội: Ngôi chùa cổ gần 2000 năm
Theo quốc lộ số 1A về phía nam chừng 24km, rẽ tay phải không xa, hỏi làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, du khách sẽ tới chùa Đậu.
Chùa Đậu còn có những tên gọi khác là: Thành Đạo Tự, Pháp Vũ Tự, chùa Vua, chùa Bà. Chùa được dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Tam quan chùa đồng thời là gác chuông có quả đại hồng chung, đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) đời Tây Sơn.
Trong cuốn sách bằng đồng có từ thời Sĩ Nhiếp đầu thế kỷ thứ III (năm 200 - 210) hiện còn cất giữ tại Chùa, có ghi rõ sự tích nàng Man Nương và Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam. Vì vậy, chùa còn có tên là chùa Vua, chùa Bà.
Trong cuốn sách bằng đồng có từ thời Sĩ Nhiếp đầu thế kỷ thứ III (năm 200 - 210) hiện còn cất giữ tại Chùa, có ghi rõ sự tích nàng Man Nương và Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam. Vì vậy, chùa còn có tên là chùa Vua, chùa Bà.
Cũng theo "Sách đồng", chùa Đậu được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, cách đây gần 2000 năm. Chùa đã được nhiều đời vua chúa sau đó sửa chữa, tôn tạo. Sử sách ghi lại, các bậc vua chúa khi đến đây lễ bái, cầu an đều rất linh ứng nên ngày xưa, chùa Đậu được phong tặng là "Đệ nhất đại danh lam". Sĩ Nhiếp là bậc hiền tài được nhân dân kính trọng tôn như Vua, nên gọi Sĩ Vương. Sách kể rằng, một lần Quách Thông trên đường hành đạo tới làng Gia Phúc, thấy thế đất trông tựa hình một bông sen đang nở. Lại nghe đồn năm đó như có luồng linh khí phát quang, Quách Thông trình lên Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp cho rằng đó là nơi đất Phật, bèn sai lập chùa để dân trong vùng làm chốn tu nguyện đặt tên là Thành Đạo Tự, rước Đại Thánh pháp Vũ Đại Bồ Tát về thờ nên gọi là Pháp Vũ Tự. Chùa này chủ yếu dành cho các bậc vua chúa, người dân chỉ được vào lễ trong ba ngày có hội, nên gọi chùa Vua. Tại đây Bồ Tát hiện thân nữ nên gọi chùa Bà. Ngay từ khi mới lập, chùa đã nổi tiếng linh thiêng. Bậc trí sĩ tới cầu mùa màng tươi tốt, lộc lắm, hoa nhiều, quả đậu trĩu cành… từ đó dân gian còn có tên gọi là chùa Đậu (Đậu cũng có nghĩa là Thành Đạt).
Chùa còn lưu lại nhiều di vật và đồ thờ cổ có giá trị như đôi rồng đá, khánh, chuông... Ðặc biệt, trong chùa có hai pho tượng là nhục thân của hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường đã trụ trì chùa vào khoảng thế kỷ 17.
Chùa được xây theo quy mô lớn trong một khuôn viên đẹp. Hồ nước trong vắt phẳng lặng, thanh tịnh. Ánh trăng dịu hiền toả sáng lung linh. Những cây đại thụ trầm mặc ưu tư trước cửa thềm. Khu chính điện thiết kế kiểu nội công, ngoại quốc. Nội công rất nguy nga lộng lẫy, cột chạm rồng nổi hoa văn bay bướm. Ngoại quốc uy nghi tráng lệ, tôn nghiêm. Để tả cảnh đẹp này, Sĩ Nhiếp đã viết:
"Đồng bằng bát ngát nẩy toà sen
Phật ngự trang nghiêm tựa động tiên
Đất phúc xây nên cung Nguyệt Điện
Trời Nam riêng hẳn cảnh thiên nhiên
Lô hương khói toả tan niềm tục
Hồ ngọc trăng soi rõ cửa thiền
Công đức từ bi bao xiết kể
Công lao vô lượng lại vô biên"
(Trích sách đồng)
Đặc biệt ở đây có hai báu vật đầy vẻ thần bí mà mọi chùa khác không có. Đó là hai pho tượng, được coi như quốc bảo thiêng liêng và phật tử cung kính như đức Phật sống. Hai pho tượng đó chính là thân xác ướp khô của hai vị thiền sư Đạo Chân và Đạo Tâm (nếu ghép lại sẽ là Chân Tâm).
Chùa được xây theo quy mô lớn trong một khuôn viên đẹp. Hồ nước trong vắt phẳng lặng, thanh tịnh. Ánh trăng dịu hiền toả sáng lung linh. Những cây đại thụ trầm mặc ưu tư trước cửa thềm. Khu chính điện thiết kế kiểu nội công, ngoại quốc. Nội công rất nguy nga lộng lẫy, cột chạm rồng nổi hoa văn bay bướm. Ngoại quốc uy nghi tráng lệ, tôn nghiêm. Để tả cảnh đẹp này, Sĩ Nhiếp đã viết:
"Đồng bằng bát ngát nẩy toà sen
Phật ngự trang nghiêm tựa động tiên
Đất phúc xây nên cung Nguyệt Điện
Trời Nam riêng hẳn cảnh thiên nhiên
Lô hương khói toả tan niềm tục
Hồ ngọc trăng soi rõ cửa thiền
Công đức từ bi bao xiết kể
Công lao vô lượng lại vô biên"
(Trích sách đồng)
Đặc biệt ở đây có hai báu vật đầy vẻ thần bí mà mọi chùa khác không có. Đó là hai pho tượng, được coi như quốc bảo thiêng liêng và phật tử cung kính như đức Phật sống. Hai pho tượng đó chính là thân xác ướp khô của hai vị thiền sư Đạo Chân và Đạo Tâm (nếu ghép lại sẽ là Chân Tâm).
Hơn 300 năm trước, hai Thiền sư trụ trì tại chùa này. Đó là hai bậc chân tu trí lực uyên bác. Một lần trước khi vào hầu phật đã viết lời di chúc: "Ta vào nhập thất 100 ngày tụng kinh niệm phật. Sau đó xác sẽ được giữ nguyên". Hết 100 ngày, các thiện tín phật tử mở cửa am bước vào thấy các thiền sư vẫn ngồi theo thế nhập thiền và có mùi cỏ thơm thoảng ra. Không ai dám đụng tới. Mấy chục năm sau áo vải bị ẩm ướt, rơi rụng, khi đó thân xác hai thiền sư chỉ còn da bọc xương. Các thiện tín đã phủ lên bằng những lớp sơn ta biến thành hai pho tượng và tồn tại cho đến ngày nay.
Thông thường, muốn ướp xác người phải cần các điều kiện như: phải có thuốc, phải rút ruột, hút óc, để xác trong hòm kín không có không khí… Năm 1983, một số nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đã bằng phương pháp Xquang kiểm tra xác minh pho tượng thiền sư Đạo chân Vũ Khắc Minh và kết luận: không có vết đục đẽo; không có hiện tượng rút ruột, hút óc, các khớp xương dính chặt với nhau như tự nhiên vốn có, cân nặng 7kg. Các nhà khoa học đều cho rằng phương pháp ướp xác này thật tinh xảo và là một đề tài nghiên cứu, đối với họ, cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn.
Có thể nói, chùa Đậu là niềm tự hào của dân tộc, một trong những biểu tượng sinh động, là minh chứng cho nhân cách, đạo lý và trí tuệ của cha ông chúng ta, mà không phải bất kỳ dân tộc nào cũng có được.../.
Có thể nói, chùa Đậu là niềm tự hào của dân tộc, một trong những biểu tượng sinh động, là minh chứng cho nhân cách, đạo lý và trí tuệ của cha ông chúng ta, mà không phải bất kỳ dân tộc nào cũng có được.../.
Theo Hoanhap.vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét