Kỳ bí miếu Bà Chúa Xứ
TT - Thất Sơn - vùng đất “phên giậu” ven tuyến
biên giới Tây Nam (thuộc tỉnh An Giang) - luôn ẩn chứa bao điều kỳ bí
chờ đón khách hành hương...
Bệ tượng trên đỉnh núi Sam, nơi Bà ngự trước khi được thỉnh xuống và lập miếu thờ dưới chân núi - Ảnh: T.Đức
TT - Thất Sơn - vùng đất “phên giậu” ven tuyến
biên giới Tây Nam (thuộc tỉnh An Giang) - luôn ẩn chứa bao điều kỳ bí
chờ đón khách hành hương...
Lăng
Thoại Ngọc Hầu, người có công đầu trong việc đào kênh Vĩnh Tế, di tích
được xếp hạng cấp quốc gia tọa lạc trong khu lăng miếu núi Sam - Ảnh:
T.Đức
Án ngữ ngay cửa ngõ vào vùng Thất Sơn, từ nhiều năm qua
miếu Bà Chúa Xứ núi Sam (thị xã Châu Đốc, An Giang) luôn giữ kỷ lục về
lượng khách tham quan, chiêm bái, với trên 3 triệu lượt người mỗi năm.
Người ta đến viếng Bà với lòng ngưỡng vọng, tôn kính trước bao huyền
tích về nguồn gốc ra đời của tượng Bà, của ngôi miếu có bề dày lịch sử
ngót 200 năm...
Tượng đá nghìn năm
“Tập quán tín ngưỡng của người Việt là hay thờ nữ thần,
và rất có thể Bà Chúa Xứ được dựng lên theo chủ ý của Thoại Ngọc Hầu.
Trước tình hình dịch bệnh hoành hành, lam sơn chướng khí bào mòn sức
dân, làm cho lòng người dao động, Thoại Ngọc Hầu đã cho thỉnh pho tượng
từ trên núi xuống và lập miếu thờ Bà để người dân thêm vững tâm, tin
tưởng đã có thế lực siêu nhiên phù hộ, chở che, từ đó thêm đoàn kết,
quyết tâm vượt qua những khó khăn để xây dựng cuộc sống trên vùng đất
“phên giậu” của đất nước” - TS Lâm Quang Láng, phó giám đốc Sở
VH-TT&DL, phó chủ tịch Hội Sử học tỉnh An Giang, cho biết.
|
Hạ tuần tháng 4 âm lịch, miếu Bà Chúa Xứ vào cao điểm
lễ hội. Những dòng xe mang biển kiểm soát từ nhiều tỉnh thành trong cả
nước nối đuôi nhau tụ về. Mọi người nhanh chân vào chánh điện dâng hương
khấn bà, rồi tỏa ra các di tích lịch sử không kém phần nổi tiếng xung
quanh: lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chùa Hang...
Anh lái xe ôm tên Thanh, đậu phía đối diện miếu Bà,
mời tôi một chuyến tham quan đỉnh núi Sam, thăm vườn Tao Ngộ, pháo đài,
viếng nơi Bà ngự... với giá 40.000 đồng cho cả hành trình lên, xuống
núi.
Vừa chạy Thanh vừa kể vanh vách giai thoại về Bà: cách
đây 200 năm, Bà ngự trên đỉnh núi. Một bữa có tốp người ngoại bang sang
quấy nhiễu, gặp tượng Bà đã nổi lòng tham định ăn cắp. Nhưng Bà linh
thiêng quá đỗi.
Kẻ trộm vừa xê dịch Bà được một đoạn đường ngắn thì kỳ
lạ thay, Bà trở nên nặng trịch không sao chuyển nổi. Họ tức mình, dùng
cây đập phá làm gãy mất một cánh tay của tượng (giờ dấu vết phục chế vẫn
còn) rồi bỏ đi.
Liền sau đó, Bà nhập vào một cô gái ở chân núi, xưng là
Chúa xứ thánh mẫu, bảo dân làng cử chín cô gái đồng trinh mang kiệu đến
rước Bà xuống núi. Quả nhiên, khi chín người con gái được chọn mang
kiệu lên đón thì tượng Bà trở nên nhẹ tênh. Đoàn thỉnh Bà đi một mạch
xuống núi, tới chỗ miếu tọa lạc hiện nay thì bỗng nhiên không thể nào
nhấc kiệu lên được nữa. Dân làng nghĩ Bà muốn ngự tại đây nên lập miếu
thờ...
Đó là câu chuyện Thanh đã thuộc lòng sau nhiều năm tham
dự lễ tái hiện cảnh rước Bà từ đỉnh núi Sam xuống miếu. Theo lời kể của
nội anh, người từng tham gia trong hội quý tế miếu Bà từ trước năm 1975
(về sau đổi lại là ban quản trị lăng miếu), nguyên nhân ra đời của ngôi
miếu có khác: vào đầu thế kỷ 19, Thoại Ngọc Hầu phụng mệnh vua đi bình
giặc ở biên giới và đào kênh Vĩnh Tế.
Chánh phẩm phu nhân Châu Thị Tế ở nhà âu lo, ngày ngày
lên núi, đến trước tượng Bà cầu khấn cho chồng và dân binh luôn bình an,
công việc mau chóng thu được kết quả như ý. Khi Thoại Ngọc Hầu hoàn
thành sứ mệnh trở về, nghe phu nhân kể lại câu chuyện đã cho người lên
núi thỉnh Bà về lập miếu thờ...
Dù có nhiều giả thuyết khác nhau, nhưng tất cả đều có
điểm chung là tượng Bà có nguyên gốc là một pho tượng cổ, từ nơi khác
chuyển đến bằng thuyền và đặt trên đỉnh núi Sam. Ông Thái Công Nô, phó
ban quản trị lăng miếu núi Sam, cung cấp một tư liệu đáng chú ý: “Vào
năm 1941, nhà khảo cổ người Pháp tên là Louis Malleret đã đến miếu Bà
Chúa Xứ núi Sam khảo sát rất tỉ mỉ và sau đó đã công bố kết luận: tượng
Bà thuộc loại tượng thần Vishnu, tạc dáng ngồi nghĩ ngợi, quý phái, bằng
chất liệu đá son, có giá trị nghệ thuật cao, ra đời vào khoảng cuối thế
kỷ thứ 6”.
Nhà văn, nhà biên khảo Trịnh Bửu Hoài, nguyên chủ tịch
Hội Văn học nghệ thuật tỉnh An Giang, người đã dành hàng chục năm tìm
hiểu về lăng miếu núi Sam, góp thêm thông tin mà ông ghi nhận từ các vị
kỳ lão: thuở xa xưa cách nay mấy ngàn năm, núi Sam là một hòn nhô lên
khỏi mặt biển, tượng Bà được di chuyển đến bằng thuyền, đặt lên đỉnh
núi. Rồi sau đó tới thời kỳ biển lùi, núi Sam nhô cao lên như ngày nay.
Điều này trùng khớp với việc phát hiện bệ đá hình vuông, mỗi bề rộng
1,6m, dày 0,3m, chính giữa có lỗ vuông, cùng chất liệu với tượng Bà. Đó
là loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, nguồn gốc không phải ở
địa phương. “Nền văn hóa Óc Eo ở An Giang được khai quật và sưu tầm
nhiều hiện vật cổ, tượng Bà Chúa Xứ núi Sam cũng không loại trừ là một
pho tượng của nền văn minh này” - ông Hoài đặt nghi vấn.
“Vía” Bà, tượng ông
Trong công trình sưu khảo “Đồng bằng sông Cửu Long -
nét sinh hoạt xưa” (NXB Trẻ), nhà văn Sơn Nam cũng đưa ra nhận định, đại
ý: tượng Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer bị bỏ quên lâu
đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với
nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó, Bà Chúa
Xứ là vị thần có quyền thế lớn...
Lần giở nguồn tư liệu người ta không khỏi giật mình
trước giả thuyết: “Tượng Bà đang thờ phụng trong miếu hiện nay thật ra
tượng của một người nam!”. Có tài liệu còn miêu tả khá tỉ mỉ: “Thực chất
tượng Bà là một pho tượng đá, thể hiện dáng hình một người đàn ông
trong tư thế ngồi, chân phải để gập, co gối, chống thẳng bàn chân xuống
mặt bệ đá; chân trái xếp bằng tròn, mũi bàn chân giáp với chân phải. Tay
phải của tượng thả một cách tự nhiên, bàn tay úp trên đầu gối phải; tay
trái ở tư thế chống nạnh, bàn tay xoải phía sau đùi trái...”.
Chúng tôi đã tìm đến thạc sĩ sử học Trần Văn Dũng - phó
trưởng Ban tuyên giáo Thị ủy Châu Đốc (An Giang), tác giả của công
trình khoa học “Lịch sử khai phá vùng đất Châu Đốc” (1757-1857) - để nhờ
ông xác nhận nguồn tin. Không chút do dự, ông Dũng khẳng định ngay:
“Tượng Bà Chúa Xứ thật ra là tượng nam, ngồi ở tư thế vương giả. Phần
đầu của tượng hiện thờ tại miếu Bà không phải là nguyên gốc, được chế
tác sau, bằng loại đá không giống với thân tượng!”.
Có thời gian người ta đồn tượng Bà ngày càng cao, lớn
thêm, thậm chí có người còn nói không thể chụp ảnh tượng Bà bởi lúc rọi
ảnh chỉ thấy một vệt trắng. “Thật ra có lúc nhiều khách thập phương đến
hỉ cúng áo mão, đã yêu cầu mặc ngay vào tượng Bà để họ làm lễ, lần lượt
số áo mặc chồng lên càng nhiều khiến người ta lầm tưởng tượng Bà lớn
lên. Còn việc đồn đoán không chụp được ảnh tượng Bà cũng là tin đồn thất
thiệt, nhân việc ban quản trị cấm du khách chụp ảnh Bà nhằm tránh bị kẻ
xấu lợi dụng để buôn thần bán thánh” - ông Thái Công Nô giải thích.
Nơi lưu dấu cao nhân
TT - Anh Vũ sơn hay núi Ông Két là một trong
bảy ngọn núi làm nên biểu tượng Thất Sơn. Có tên gọi này là vì lưng
chừng núi nhô ra một mỏm đá lớn, từ xa trông hệt như đầu con chim két.
Điều đặc biệt là núi chỉ cao 225m, dài 1.100m, nhưng từ chân núi lên tới
đỉnh có tới hơn 23 điểm thờ cúng liên quan tới các truyền thuyết, điển
tích dân gian.
Ông Sơn 'đào', người 'đánh thức' núi Két - Ảnh: Tấn Đức
TT - Anh Vũ sơn hay núi Ông Két là một trong
bảy ngọn núi làm nên biểu tượng Thất Sơn. Có tên gọi này là vì lưng
chừng núi nhô ra một mỏm đá lớn, từ xa trông hệt như đầu con chim két.
Điều đặc biệt là núi chỉ cao 225m, dài 1.100m, nhưng từ chân núi lên tới
đỉnh có tới hơn 23 điểm thờ cúng liên quan tới các truyền thuyết, điển
tích dân gian.
Hang Cử Đa trên núi Két. Theo truyền khẩu dân gian, cụ Cử Đa đã có thời gian ẩn tu tại đây - Ảnh: Tấn Đức
Núi thiêng
Ngày nay nói tới Thất Sơn người ta thường liên tưởng
tới vùng đất rộng lớn chạy dài từ núi Sam vào tới huyện Tịnh Biên rồi
vòng sang Tri Tôn. Vùng này thật ra có tới gần 40 ngọn núi, nhưng hiếm
có nơi nào lại lưu dấu nhiều bậc cao nhân như núi Két. Ngọn núi này có
rất nhiều hang động, là nơi có nhiều cao nhân về đây tu hành.
Một trong những người được nhắc tới nhiều nhất là danh
tăng Đoàn Minh Huyên (tức phật thầy Tây An), người sáng lập giáo phái
Bửu Sơn Kỳ Hương, đồng thời cũng là nhà yêu nước, nhà dinh điền có công
khai hoang nhiều vùng đất ở miền Tây Nam bộ. Ông có nhiều đệ tử giỏi, là
danh tăng, lãnh tụ nghĩa quân kháng Pháp như đức cố quản Trần Văn
Thành, Đạo Thắng, Tăng Chủ, Đạo Xuyến, Đạo Lập... Đức Huỳnh Phú Sổ -
người lập nên hệ phái Phật giáo Hòa Hảo, cũng từng lưu lại ngọn núi này
và hiện tại đây vẫn còn điện thờ ông.
Ngoài ra, một nhân vật khá nổi tiếng từng đến núi Két
tu tập là cụ Cử Đa (Nguyễn Văn Đa), quê ở Phù Cát, Bình Định (cũng có
tài liệu nói quê cụ ở Mỹ Tho, Tiền Giang), thi đỗ cử nhân võ, tham gia
chống Pháp. Việc lớn không thành, Cử Đa bị Pháp truy gắt quá đã vào miệt
Thất Sơn ẩn tu, lấy đạo hiệu là Ngọc Thanh. Người ta đúc kết trước sau
đã có hơn mười vị cao nhân đến núi Két tu hành đắc đạo. Chính điều đó đã
làm nên sức hút cho ngọn núi thiêng này, với những ngày cao điểm có tới
vài ngàn lượt khách hành hương chiêm bái.
Tạo hóa ban tặng cho núi Két nhiều cảnh đẹp hoang sơ,
có phần huyền bí. Điện Huỳnh Long được lập trên một tảng đá khổng lồ,
bên cạnh khoảng sân rộng. Nơi đây, phật thầy Tây An cùng các môn đệ đã
có thời gian tham thiền tĩnh tọa. Điện U Minh án ngữ nơi cửa hang sâu,
có tượng Thanh xà, Bạch xà trấn yểm, lại thêm Ngưu đầu, Mã diện mặt mày
dữ tợn, cầm đao thương răn đe người đời không được làm điều trái đạo.
Ngay dưới nền điện có một miệng hang vừa một người chui
lọt, được đậy tôn cẩn thận. Đường xuống hang ngoằn ngoèo, chỉ vừa một
người chui, nhưng qua một đoạn chừng mươi thước hang đột nhiên trở nên
rộng rãi rồi ăn thông ra vách đá cheo leo. Trong hang có mấy phiến đá
rộng khá phẳng, tương truyền là nơi cụ Cử Đa từng ngồi tu luyện trong
những ngày buồn nản vì chí lớn không thành. Trong hang này còn một ngách
dẫn tới hang khác sâu và rộng hơn. Người ta kể trước năm 1975 có một số
ẩn sĩ tìm đến đây để ẩn tu, nhưng sau khi họ đi xuống không thấy ai trở
lên. Cách đây hơn 10 năm, khi đưa vào khai thác du lịch, ngách rẽ này
được xây bít lại bằng bêtông để đảm bảo an toàn cho khách hành hương có ý
khám phá tận cùng hang động.
Từ chân núi đi lần tới đỉnh, khách hành hương xem chừng
đã thấm mệt. Ngước nhìn lên hòn đá to, chiều cao dễ tới trên 20m, lại
thấy hiện ra giếng tiên. Kỳ lạ thay, giữa non cao lộng gió lại sinh ra
cái giếng tròn, ăn sâu vào phiến đá như nắm tay của người khổng lồ tạo
ra. Nước lấy lên từ lòng giếng ngọt lịm, mát và trong như nước cất,
quanh năm không cạn. Cho đến giờ chưa ai lý giải được duyên cớ nào đã
sinh ra giếng. Có điều chắc chắn giếng đã tồn tại từ rất lâu, bởi miệng
giếng mòn nhẵn có chỗ hằn sâu dấu chân người cúi xuống lấy nước.
Người đánh thức núi
So với những núi khác trong Thất Sơn, núi Két còn giữ
được nhiều nét nguyên sơ thiên tạo. Từ các cảnh trí lộ thiên tới các
hang, động, điện thờ đều giữ được nét nguyên sơ. Sự đầu tư có giới hạn
và đúng mực này giúp khách hành hương tiếp cận một cách sống động hơn
với những điển tích, truyền thuyết về ngọn núi mà mỗi người đã được
nghe, được biết qua sử sách.
Ít người biết có được như vậy là nhờ bàn tay của vợ
chồng ông chủ núi Nguyễn Văn Sơn (61 tuổi) - Nguyễn Thị Hòa Liên (63
tuổi). Ông Sơn là dân Châu Phú (An Giang), hơn 30 năm trước vì cuộc sống
khó khăn đã đưa vợ lên đây lập nghiệp. Hồi ấy phong trào trồng đào
(điều) lấy hạt đang thịnh. Ông Sơn nhận việc gánh đào thuê từ trên núi
xuống cho các chủ vườn trong vùng. Biệt danh Sơn “đào” ra đời từ đó.
Gánh thuê cả chục năm, cộng với nghề mua bán củi từ những vườn đào già
cỗi, cần phá bỏ để trồng mới, vợ chồng Sơn “đào” đã dành dụm được ít vốn
sang lại đất của các chủ vườn trên núi. Gặp lúc đào xuống giá, nhiều
người đua nhau bán hết vườn, chuyển hướng làm ăn. Dạo trước, muốn lên
núi Két phải vẹt cây rừng, leo qua nhiều vách đá hiểm trở nên chưa có
nhiều người biết tới những vẻ đẹp thiên tạo của ngọn núi này.
Riêng vợ chồng Sơn “đào” do có thời gian dài bám núi
mưu sinh, nơi nào cũng đã lui tới, đã sớm nhận thấy tiềm năng du lịch
của núi Két nên không ngần ngại đầu tư mua đất. Lần hồi vợ chồng ông đã
làm chủ hơn 20ha đất, trải dài từ chân lên tới đỉnh núi Két. Có đất, ông
lại lao vô làm đường. Như con dã tràng, ngày này qua tháng nọ, vợ chồng
ông âm thầm xeo từng viên đá, phát từng bụi dây leo rậm rạp ngáng
đường. Những chỗ hang hốc, vách đá dựng đứng như đường ra mỏ ông Két,
lên bàn chân tiên, điện ngọc hoàng hay xuống giếng tiên, vào hang chiến
sĩ, hang Cử Đa..., ông xây bậc, bắc cầu treo để du khách dễ dàng tiếp
cận. Ông mua thêm cây xanh về giặm vá mấy chỗ vườn đào ngày trước người
ta đã đốn bỏ, để lại các mảng “da beo”.
Số tiền thu được từ nguồn bán vé, vợ chồng ông đầu tư
đưa điện, nước sinh hoạt lên đỉnh núi. Đặc biệt, ông cắt cử một đội
chuyên đi làm vệ sinh, mỗi ngày hai lần tại các địa điểm khách dừng
chân. Một tuần ba lần có người đi gom rác, quét dọn hết tuyến đường từ
trên núi xuống. Trên đỉnh núi ông lại cho xây dựng một căn nhà rộng, lúc
nào cũng giăng mắc sẵn mấy chiếc võng để du khách nghỉ ngơi sau hành
trình leo núi. Khách có ý ngủ lại qua đêm cũng được phục vụ chu đáo.
Đầu tư hàng chục tỉ đồng để làm du lịch, làm trên trọn
một quả núi hẳn hoi, nhưng ông chủ Sơn “đào” vẫn áo nâu, chân đất như
một tiều phu ngày nào. Ông Sơn “đào” tâm sự: “Tui không nghĩ mình đang
kinh doanh, không đặt nặng chuyện lời lỗ, mà quan trọng là làm sao gìn
giữ được hồn thiêng mà đất trời và tiền nhân mang lại cho quả núi này”.
__________________________
Hơn 70 sống ẩn dật trên núi Cấm, lão đạo sĩ Ba Lưới
đã chứng kiến nhiều chuyện, kể cả gặp và trò chuyện với tướng cướp lừng
danh Đơn Hùng Tín.
Đạo sĩ trăm tuổi
TT - Những ngày qua, khách hành hương đổ về
núi Cấm mong được chiêm ngưỡng tượng Phật Di Lặc vừa được xác lập kỷ lục
cao nhất châu Á.
Đạo sĩ Nguyễn Văn Y (Ba Lưới) - người được xem như 'pho sử sống' của vùng Thất Sơn - Ảnh: Tấn Đức
Ông Ba Lưới (Nguyễn Văn Y), đạo sĩ hiếm hoi còn lại của
miệt Thất Sơn, hiện là trưởng ban quản tự chùa Phật Lớn (ấp Thiên Tuế,
xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang), cũng âm thầm sống vui với những
“kỷ lục” mà chỉ riêng ông mới thấu hết giá trị của nó: người đã hành
nghề thầy thuốc lâu nhất ở núi Cấm (hơn 70 năm) và người đã hai lần chém
xà tinh trừ hại cho dân.
Từ anh chài lưới...
“Muốn tìm ông Ba Lưới hả, thôi thì cứ đi cầu may. Ông
già trăm tuổi nhưng chưa chịu nghỉ, hễ rảnh rang là đi tìm cây thuốc
quý” - ông Tư Ngần (58 tuổi), nhà ở ấp Thiên Tuế, cho hay khi chúng tôi
nhờ ông đưa đến diện kiến “lão tiền bối” Ba Lưới. Mất hơn mươi phút cho
xe máy đi số 1, rú hết ga để trèo qua những con dốc dựng đứng khiến
người và xe như muốn lộn ngược ra phía sau, chúng tôi mới lên được vồ Đá
Dựng, nơi đạo sĩ Ba Lưới và người vợ kém ông hơn hai con giáp chọn để
dựng lên “hữu tình cốc”.
Lão đạo sĩ vừa đi rừng về, đang nằm đong đưa trên chiếc
võng trước hiên nhà. Đưa bàn tay khẳng khiu vuốt chòm râu trắng, lão
đạo sĩ khề khà kể chuyện với khách phương xa mà như đang tâm tình với
con cháu trong nhà: “Dòng họ tao là dân sông nước, sinh trưởng ở miệt cù
lao Giêng (Chợ Mới, An Giang). Hồi nhỏ tao thường bơi ghe ngang dọc
khắp Cái Tàu, Vàm Nao, Ông Chưởng để chài lưới kiếm cá đổi gạo. Không
biết cơ duyên nào đưa tới, khoảng đầu thập niên 1930, khi sắp vô tuổi
20, tao lén nhà vác theo mấy tay lưới, hỏi đường lội bộ suốt hai ngày
lên tới Thất Sơn, rồi lần hồi vẹt rừng lần lên tới đỉnh núi Thiên Cấm
sơn này...”.
Không biết có phải nhờ dày công luyện tập các bí kíp
của môn võ lâm Thất Sơn và thái cực quyền mà ở tuổi trăm, lão đạo sĩ Ba
Lưới vẫn giữ được thân pháp nhẹ nhàng, giọng nói trầm ấm, thi thoảng lại
pha vào những tràng cười hỉ hả đầy sảng khoái. “Có lẽ trông dung mạo
của tao lúc đó lạ lắm, ai đời lên núi mà còn vác theo lưới nên các bậc
ân nhân, tiền bối đã đặt luôn cho tao cái danh Ba Lưới” - đạo sĩ kể
tiếp. Suốt mấy chục năm trời miệt mài phát rừng làm rẫy để có cái ăn,
rồi lần dò tìm thầy học võ để phòng thân, thêm nghề bốc thuốc cứu người.
Trong hành trình tu thân học đạo, ông Ba Lưới không ít lần giáp mặt với
thú dữ. Nhờ những thế võ Thất Sơn bí truyền học được từ các đạo sĩ tiền
bối, ông đã hai lần hạ gục rắn hổ mây to hàng chục ký.
Những đạo sĩ cuối cùng
Thế hệ đạo sĩ cuối cùng ở miệt Thất Sơn từng vang danh
như Năm Cao, Ba Sánh, Đức Minh, Thiện Tài, Năm Sanh, Ba Tiêu, Thiện
Quang, Mười Thiệt, Sáu Hột, Mười Phu... kẻ trước người sau lần lượt tạ
thế. Giờ trên núi Cấm có lẽ chỉ còn lại nhà sư Thiện Huệ (87 tuổi, quê
quán ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang), trụ trì chùa Bình Sơn (ấp
Thiên Tuế) và đạo sĩ Ba Lưới. Hai ông được xem như “pho sử sống” của
miệt Thất Sơn.
Chiều tĩnh mịch giữa chốn thâm sơn, chúng tôi lặng nghe
lão đạo sĩ Ba Lưới nhắc về những người bạn quá cố của ông. Đạo sĩ Năm
Đức, người có võ công thuộc loại siêu phàm, di chuyển nhanh và nhẹ nhàng
như cơn gió. Nồi cơm bắc lên bếp chưa kịp sôi, Năm Đức đã hạ sơn, dạo
chợ Nhà Bàn mua mấy món đồ rồi quay trở về. Trong khi người bình thường
muốn hoàn thành công việc như vậy phải mất trọn một ngày. Hay như chuyện
đạo sĩ Ba, người có sức mạnh phi thường, đã ra tay kéo phăng chiếc ghe
rỗi (ghe mua bán cá) trọng tải độ 30 tấn bị mắc cạn trên kênh Trà Sư
(huyện Tịnh Biên), sau khi mấy chục thanh niên hì hục cả buổi không làm
sao lôi được chiếc ghe ra khỏi vũng lầy. Chủ ghe rỗi cảm kích mới bày
tiệc đãi dũng sĩ một bữa cá tươi. Bận đó, đạo sĩ Ba đã xơi sơ sơ... nửa
giỏ cá lóc, tổng số chừng 30 con.
Lão đạo sĩ Ba Lưới cũng không quên kể chuyện bậc đàn
anh Mười Thành có phép ẩn thân khó ai bì kịp. Ông khẳng định chỉ cần một
bụi cỏ, một nhánh cây là đạo sĩ Mười Thành có thể “tan biến” vào đó,
không biết đâu mà tìm. Hồi đó có người muốn kiểm chứng tài biến hóa của
Mười Thành đã nắm tay ông kéo vào căn nhà trống, khóa trái cửa lại. Vậy
mà tìm mãi cũng không thấy Mười Thành đâu.
Giáp mặt Đơn Hùng Tín
Dạo những năm đầu mới về ẩn cư trên núi Cấm, ông Ba
Lưới đã có dịp hội ngộ cùng Đơn Hùng Tín, một tướng cướp nổi danh khắp
các tỉnh Nam bộ từ trước Cách mạng tháng tám 1945, khiến cho nhà chức
trách Pháp phải chật vật đối phó. Về sau, do bị kẻ tâm phúc làm nội
gián, chỉ điểm, Đơn Hùng Tín bị Pháp bao vây và phóng hỏa thiêu chết
trên một chiếc ghe ở vùng Mỹ Tho, Tiền Giang. Có nhiều góc nhìn chưa
thống nhất về Đơn Hùng Tín. Người cho Tín là một nhân vật hào sảng,
chuyên cướp của cường hào, quan lại mang phân phát cho dân nghèo. Ý kiến
khác lại cho Tín thật ra chỉ là một kẻ gian hùng, háo danh, theo con
đường tà đạo. Theo biên khảo của nhà văn Sơn Nam, Đơn Hùng Tín tên thật
là Lê Văn Tính, quê ở xã Ba Sao, Cao Lãnh, Đồng Tháp, vì mê truyện
Thuyết đường, khoái nhân vật Đơn Hùng Tín nên cải sang tên này và âm
thầm nuôi “chí lớn”. Sau khi sang núi Tà Lơn (Campuchia) chiêu nạp lực
lượng, Tín kéo quân về Thất Sơn, đóng trại tại hang Ông Thẻ trên núi Cấm
để vừa hành hiệp vừa tiếp tục khổ luyện võ nghệ.
Tại núi Cấm, ông Ba Lưới và Đơn Hùng Tín đã gặp nhau.
“Tín có dáng người đầy đặn, nước da ngăm đen, râu tóc um tùm. Y thuật
với tôi là đã luyện thành công “thiên thư bí quyết” bằng cách mổ bụng
lấy bào thai trong bụng vợ, hằng đêm đem ra giữa trời tu luyện. Nhờ đó y
có thể xuất quỷ nhập thần, ra vào các nơi như chốn không người”. Đạo sĩ
Ba Lưới kể ông và Đơn Hùng Tín khá thân thiết, nên cả việc Tín xin bào
thai, bị vợ giận lẫy, không dám từ chối, chỉ nói trổng: “Đứa con trong
bụng em là của anh, anh muốn làm gì thì làm chớ hỏi làm chi” Tín cũng kể
lại cho ông nghe. Ông Ba Lưới cũng cho biết Đơn Hùng Tín nhiều lần nói
với ông là “không phải đụng đâu cướp đó, mà chỉ cướp của nhà giàu, cướp
kho hàng của nhà chức trách để phát chẩn cho người nghèo”.
Hỏi khi xưa Đơn Hùng Tín có mời ông “nhập hội”, lão đạo
sĩ Ba Lưới lắc đầu: “Có lẽ y biết tôi không màng chuyện thế sự”. Ông Ba
Lưới cũng cho biết trong thời gian ẩn dật trên núi, đã ba lần hết Pháp
rồi tới Mỹ dẫn theo cả thông ngôn tìm đến tận nơi ở của ông trên núi Cấm
tìm hiểu về ông. Họ tỏ ra thán phục khi biết ông ngoài võ công thượng
thừa còn nắm giữ nhiều bài thuốc trị rắn cắn gia truyền rất hiệu nghiệm.
“Mấy người đó nhiều lần mời tôi ra cộng tác với mức lương hậu hĩ, nhưng
tôi trả lời nếu ham tiền tài, danh vọng thì tôi đã ở thế chớ lên núi ẩn
dật làm chi”.
Núi Cấm giờ đã có đường ôtô, điện lưới quốc gia, trường học và cả nhà hàng, khách sạn. Cuộc sống đang thay đổi từng ngày...
TT - Những ngày qua, khách hành hương đổ về
núi Cấm mong được chiêm ngưỡng tượng Phật Di Lặc vừa được xác lập kỷ lục
cao nhất châu Á.
Hang
Ông Thẻ cách nhà đạo sĩ Ba Lưới chỉ một con dốc, nơi ngày trước tướng
cướp Đơn Hùng Tín luyện 'thiên thư bí quyết' - Ảnh: Tấn Đức
Núi Cấm bây giờ
TT - Miệt Thất Sơn với bao câu chuyện nhuốm
màu liêu trai, giờ đã khác xưa nhiều lắm. Ngay như núi Cấm, nơi được xem
là hiểm trở nhất, kỳ bí nhất, cũng đã trở nên gần gũi. Nhưng bên cạnh
sự phát triển tất yếu ấy, người ta vẫn thấy tiếc...
Núi Cấm, điểm thu hút đông đảo khách hành hương - Ảnh: Tấn Đức
TT - Miệt Thất Sơn với bao câu chuyện nhuốm
màu liêu trai, giờ đã khác xưa nhiều lắm. Ngay như núi Cấm, nơi được xem
là hiểm trở nhất, kỳ bí nhất, cũng đã trở nên gần gũi. Nhưng bên cạnh
sự phát triển tất yếu ấy, người ta vẫn thấy tiếc...
Để có cuộc sống đầy đủ như hôm nay, ông Sáu Mau luôn ghi nhớ công lao các bậc tiền nhân - Ảnh: T.Đ.
Chạy Mau và Nhớ Xứ
“Thất Sơn nằm ở vị trí đắc địa, vừa có núi non hiểm trở
để trú ẩn, khi cần có thể nhanh chóng theo sông Tiền, sông Hậu xuống
đồng bằng, hoặc thoát ra biển Tây; cũng có thể dễ dàng lánh sang đất
Campuchia. Hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, vị trí đắc địa của Thất Sơn
khiến vùng đất này càng trở nên huyền bí. Tôi nghĩ tới đây cần tiếp tục
phát triển các đề tài nghiên cứu, sưu khảo về con người và vùng đất lịch
sử này” - TS Lâm Quang Láng, phó giám đốc Sở VH-TT&DL, phó chủ tịch
Hội Sử học tỉnh An Giang, bày tỏ.
|
Tại Vồ Pháo Binh, ấp Thiên Tuế, chúng tôi tình cờ gặp
ông Nguyễn Văn Mau (Sáu Mau, sinh năm 1944), hiện là thủ từ điện thờ
Ngọc Hoàng trên đỉnh Bò Hong. Ông Sáu là dân Vĩnh Gia (Tri Tôn, An
Giang), chạy giặc Pol Pot rồi trở thành cư dân núi Cấm từ năm 1978. Mặc
dù vậy, ông Sáu vẫn luôn tự hào là lớp cư dân đầu tiên của vùng đất này,
bởi trước đó núi Cấm được coi là chốn thâm sơn, chỉ những người tu hành
hoặc muốn sống cuộc đời ẩn dật như những đạo sĩ mới tìm đến. “Mỗi người
mỗi quê, nhưng ai nấy hẹn nhau hễ nhà có việc thì phải lên tiếng để mọi
người biết đến giúp đỡ hoặc chung vui. Vậy mà nhiều lúc săn được con
thú rừng, dùng tay làm loa hú vang núi, họa hoằn mới có người nghe tìm
tới chơi” - ông Sáu Mau nhớ lại những ngày mới lên núi Cấm lập nghiệp.
Trên vùng đất mới, vợ chồng ông Sáu đã miệt mài khai
hoang, mở đất lập vườn trồng xoài, mít, chuối, su hào... Cách tuần lễ
nửa tháng ông Sáu lại lưng đai, vai gánh vượt dốc núi trong sương mù để
mang mấy món trái cây, đồ rẫy xuống chợ bán, rồi mua gạo, muối, dầu hỏa
thắp sáng gánh ngược trở lên. Bận nào xuống chợ ông cũng khởi hành từ
lúc 4g-5g sáng, vậy mà mãi tới tối mịt mới quay về đến nhà.
Bên bữa cơm chiều với món gà rừng hấp măng núi, thêm
chút “đưa cay”, ông Sáu Mau trút hết tâm sự: “Biết tại sao tôi tên là
Mau không? Hồi đó giặc giã dữ lắm, hết Tây rồi tới Nhật đánh nhau hà
rầm; gia đình phải liên tục chạy loạn. Vậy nên tía chọn cái tên Chạy
(Năm Chạy) đặt cho người anh kế của tôi; còn tôi là Mau (Sáu Mau). Tía
dẫn mấy anh em tôi tản cư gần như khắp các tỉnh miền Tây, cuối cùng thì
về Vĩnh Gia, Tri Tôn (An Giang). Tới phiên tôi lại tiếp tục đưa vợ con
chạy giặc Pol Pot lên tuốt trên đỉnh núi Cấm. Cho nên khi sinh con, tôi
đặt đứa đầu là Nguyễn Văn Nhớ (Hai Nhớ), đứa kế Nguyễn Văn Xứ (Ba Xứ).
Hi vọng tụi nhỏ dù đi đâu, làm gì cũng nhớ quê hương, bản quán!”.
Nghe ông Sáu Mau kể chuyện gia đình, chúng tôi chợt nhớ
lời ông Ba Ban, nguyên phó ban quản tự chùa Phật Lớn: “Núi Cấm phần lớn
là dân xứ khác đến lập nghiệp, lại phải đối mặt với bao thử thách khắc
nghiệt của thiên nhiên. Hoàn cảnh và điều kiện đó đã xây dựng cho người
dân núi Cấm tinh thần đoàn kết và hiếu khách. Đó là vốn quý khi núi Cấm
thành khu du lịch trọng điểm của địa phương”.
Đổi thay từng ngày
Núi Cấm đã chuyển mình đi lên thật nhanh, ngay cả người
dân sống lâu năm ở địa phương cũng khó ngờ tới. Mấy năm trước, khi điện
lưới quốc gia về tới vồ Đầu, ông Sáu Mau đã mừng quýnh, bỏ thêm mấy
chục triệu đồng mua dây, cắm cột kéo luôn về nhà mình, giã từ cảnh chong
đèn bắt muỗi cho con. Có điện, điện thoại di động, tivi, đầu máy và cả
Internet nhanh chóng đi theo. Rồi trường học, trạm xá, hệ thống cấp nước
sạch sinh hoạt và cả điểm chiếu phim, tường thuật bóng đá quốc tế màn
hình phẳng... lần lượt xuất hiện. “Thiệt tình tôi không nghĩ có ngày lớp
con cháu mình sướng như vầy: hít thở không khí núi rừng nhưng ăn uống,
sinh hoạt, giải trí như người đô thị” - ông Sáu Mau tâm sự.
Nguyễn Hiếu Trung, công nhân chế biến gỗ ở Bình Chuẩn
(Bình Dương) nhà cạnh chùa Phật Lớn, hôm đưa bạn về quê dự lễ khánh
thành tượng phật Di Lặc, nói: “Mấy năm trước, mỗi lần về thăm nhà tôi
phải xin nghỉ phép cả tuần, vì nội chuyện đi lại đã mất phân nửa thời
gian, nhưng bây giờ xe 16 chỗ đưa khách chạy thẳng lên núi, mất chưa tới
20 phút. Khỏe thiệt”. Hòa cùng niềm vui này, Nguyễn Văn Thành, lái xe
ôm nhà gần giếng Vua Gia Long (đồi Thiên Tuế), người đưa chúng tôi đi
tham quan núi Cấm, khoe: “Bây giờ có đường rồi, khách du lịch lên núi
nhiều hơn, tụi tôi kiếm bét lắm cũng vài trăm ngàn đồng mỗi ngày, cuộc
sống dễ thở nhiều rồi”. Cũng nhờ có đường mà cha Thành được đoàn bác sĩ
dưới xuôi lên khám, phát hiện ông bị mù do đục thủy tinh thể. Sau đó,
cùng với mấy chục trường hợp tương tự ở núi Cấm, ông cụ đã được mổ mắt
miễn phí, thấy lại ánh sáng sau gần chục năm sống trong cảnh mù lòa.
Tiếc nuối
Ông Nguyễn Thành (xã An Hảo, huyện Tịnh Biên), người có
hơn 20 năm dành thời gian đi bộ tham quan khắp núi Cấm, chia sẻ: “Có
đường ôtô lên núi Cấm thì tốt cho dân sinh, nhưng muốn phát triển du
lịch, nhất là loại hình du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, thì chỉ con
đường này là chưa đủ. Dành thời gian thong thả leo núi, vừa hít thở
không khí núi rừng, vừa thưởng thức từng cảnh sắc thiên nhiên có hấp dẫn
riêng của nó. Tiếc là dường như đường đi bộ đã bị lãng quên, trở nên
xuống cấp, kém vệ sinh quá”.
Lão đạo sĩ Ba Lưới, người đã hơn 70 năm bốc thuốc cứu
người ở núi Cấm, ngậm ngùi tiếc nuối ở góc độ khác: “Hồi trước núi Cấm
là kho dược liệu, cả các loại thuốc quý như nhân sâm, linh chi cũng
không thiếu. Nhưng do người ta săn lùng quá, hái tràn lan không chịu
dung dưỡng nên đã cạn kiệt gần hết. Nhiều loại trước đây chỉ cần ra sau
núi là có, vậy mà bây giờ khi cần tôi phải gọi điện cho người ta gửi từ
Nam Vang (Phnom Penh - Campuchia) sang”. Không chỉ cây thuốc, nhiều loại
thực vật đặc trưng của núi Cấm như cây thiên tuế, mọc trên một vùng
rộng lớn, có cây gốc lớn hai người ôm không xuể, giờ sắp bị xóa sổ.
“Nhiều người hỏi tại sao có địa danh đồi thiên tuế, tôi giải thích, họ
đi một vòng tham quan rồi trở lại nói: Bác nói chơi hay sao, chứ cháu có
thấy cây thiên tuế nào bằng tuổi bác đâu!”-ông Ba Lưới cười gượng, kể.
Trong khi đó, ông Ba Hải, một võ sư ở Cần Thơ, sau khi hành hương về xứ
sở của những đạo sĩ lừng danh miệt Thất Sơn, nghe người dân địa phương
nhắc về họ đã xuýt xoa: “Vùng Thất Sơn có rất nhiều bậc chân tu, võ công
cao cường, những câu chuyện truyền miệng trong dân gian chỉ là một phần
nhỏ so với thực tế. Phải chi trước đây người ta nghĩ tới việc sưu tập
các bài võ tinh hoa, bí truyền của các cụ”.
TẤN ĐỨC
Phải lòng Châu Đốc từ ánh nhìn đầu tiên
Châu Đốc là lựa chọn thăm thú đầu tiên của tôi trong hành trình đến An Giang. Nằm ở ngã ba nơi bờ Tây sông Hậu, Châu Đốc có một mặt giáp biên giới Campuchia và mang những đặc trưng của địa hình bán sơn địa, khiến nó trở nên độc đáo giữa vùng đồng bằng Nam Bộ này.
Háo hức đến đây không chỉ bởi sự huyền bí của dãy Thất Sơn, chúng tôi còn muốn tận mắt khám phá những huyền thoại trên đường mở cõi của ông cha ta từ thuở trước.
Châu Đốc cuốn hút chúng tôi ngay từ những cái nhìn đầu tiên. Thị xã
vùng biên này “đặc” nét thành thị nhưng vẫn phảng phất đâu đó sự giản dị
mà người ta thường thấy ở những vùng thôn dã. Khách du lịch không ít,
nhưng cũng chỉ vừa đủ để người ta không cảm thấy quá xô bồ.
Châu Đốc vẫn có những con đường ven sông yên ả, những dãy phố cũ bên hông chợ dường như bao đời chẳng đổi thay. Ấn tượng ấy có lẽ bắt nguồn từ vòng quay chậm rãi của những chiếc xe lôi đầy rẫy trên phố chăng?
Dạo trên phố, không quá khó để ta bắt gặp những bà má tóc bạc phơ đội
khăn rằn hay những người đàn ông quấn xà-rông, đội mũ tròn lạ mắt. Đôi
lúc, người lái xe lôi có nước da màu đồng hun đi ngang qua, mời khách
bằng một nụ cười rộng hết cỡ.
Châu Đốc giống như một cô gái trùm khăn chỉ lộ đôi mắt, vẻ đẹp e ấp, kín đáo ấy luôn khơi gợi trí tò mò của người đối diện.
Chúng tôi dành cả chiều muộn chỉ để nhẩn nha dạo chơi ven sông, ngắm hoàng hôn đỏ rực khuất dần sau làng cá bè và nhìn dân địa phương thong thả làm những công việc cuối ngày. Một người đàn ông chầm chậm bơi ghe kiểm tra lồng bè.
Vài ngư phủ buông cần câu cá dưới chân cầu. Tiếng những đứa trẻ í ới gọi nhau từ cầu ao sau nhà. Thỉnh thoảng, một chiếc thuyền máy hoặc xà lan rẽ nước lao đi vun vút. Từng đợt sóng lục bình dạt cả vào hai bên bờ, trôi lững lờ cạnh những ngôi nhà nổi như “khu vườn” xanh mướt mát.
Bắt chuyện với một đoàn khách từ Campuchia sang, chúng tôi quen một
hướng dân viên người địa phương, anh chàng có mái tóc xoăn và sự nhiệt
tình thật khiến người đối diện bị choáng ngợp. Nghe anh hăng say kể về
món lẩu mắm trứ danh của vùng đất này cùng nguyên liệu làm ra nó, cả hai
chúng tôi đều “lắc đầu lè lưỡi”.
Mê tìm hiểu ẩm thực địa phương thật đấy nhưng dù sao máu phiêu lưu của tôi cũng chỉ có giới hạn mà thôi. Thay vào đó, chúng tôi theo anh đến một quán vỉa hè chật ních khách, gọi lẩu cháo cá lóc rau đắng và nhấp vài chén rượu chuối.
Lệ ở đây là cả chủ và khách đều cùng uống chung trong một ly, chẳng mấy chốc, rượu thì vơi mà những những câu chuyện thú vị của người bạn mới quen lại một đầy. Câu ca vọng cổ bằng chất giọng miền Tây ngọt ngào trong không gian ấy khiến tôi cảm thấy mình đã thân quen với nơi này từ lâu, mặc dù cho đến giờ tôi vẫn không thể nhớ nổi ca từ của nó.
Vùng đất Chăm trù phú
Vẻn vẹn chưa đầy 10 phút qua phà Châu Phong, chúng tôi sang thị xã Tân Châu, nơi có một ngôi làng cổ của người Chăm yên ả nằm ven sông. Chúng tôi ồ lên bất ngờ khi khám phá ra rằng người Chăm nơi đây không gắn liền với tháp chàm hay những bức tượng thần Shiva, họ theo đạo Hồi dòng chính thống và có nghề dệt độc đáo từ lâu đời.
Tòa thánh đường uy nghi nằm giữa làng, với màu trắng trang nghiêm và màu xanh yên bình, thanh thản. Trong chính điện, các tín đồ đang ngủ sau buổi cầu nguyện suốt đêm. Lúc tôi đến, họ sắp bước vào tháng lễ Ramadan truyền thống và có lẽ đang trong chuyến hành hương đi qua các thánh đường.
Con đường lồng lộng gió đưa chúng tôi đến Núi Sam, điểm đến không thể
bỏ sót trong lịch trình thăm vùng Bảy Núi (còn gọi là Thất Sơn là vùng
đồi núi duy nhất ở Tây Nam bộ, tập trung ở các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn
của An Giang).
Vùng núi linh thiêng này là nơi có miếu Bà Chúa Xứ và lễ hội đua bò nổi tiếng gần xa. Giữa trưa, khách hành hương vẫn nối nhau leo từng bậc thang chinh phục đỉnh núi. Dưới chân, Miếu Bà cổ kính nghi ngút khói hương và tiếng cầu khấn thành kính. Không xa là lăng Thoại Ngọc Hầu, nơi an nghỉ của vị công thần thời Nguyễn đã có công khai phá vùng đất này.
Kênh Vĩnh Tế do ông xây dựng cũng là con kênh đào lớn nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đứng trước tấm bia đá đã mòn theo thời gian, tôi chợt nghĩ về “dấu chân ngàn năm đi mở đất” và tự hỏi, không biết vị tiền nhân ấy có biết rằng, hàng trăm năm sau, vùng đất hoang vu nơi biên ải xưa kia đã trở nên trù phú như thế nào không.
Con đường tầm 5km cho xe máy lên núi vá víu với nhiều khúc cua nhỏ
hẹp, nhưng khung cảnh hùng vĩ trên đỉnh núi lại khiến chúng tôi mê mẩn.
Dù chỉ cao hơn 200m, nhưng sự bằng phẳng mênh mông của cánh đồng dưới
chân núi và những ô ruộng qua mùa trồng cấy vẫn hiện lên kỳ vĩ.
Thốt nốt, có một chút bất ngờ nhẹ
Niềm mong mỏi được ngắm những cây thốt nốt của tôi đã được đáp ứng trên đường đến cửa khẩu Tịnh Biên. Không đơn độc đứng bên những ngôi chùa tháp vàng, cũng không lác đác dọc lối đi, thốt nốt mênh mông khắp cánh đồng, hàng nối hàng trong tầm mắt. Thật ngạc nhiên là loài cây thô mộc và có phần xù xì này lại có thể cho con người nhiều thứ đến vậy.
Người dân nơi này hứng nước thốt nốt để chế biến ra đường, để giải khát, cơm trái để ăn, vỏ trái làm bánh, thân xẻ gỗ, lá lợp nhà, thậm chí có cả đũa, quạt và rượu thốt nốt. Tôi chợt nhớ có câu nói: Ở đâu có cây thốt nốt, ở đó có người Khmer và ngược lại.
Cây thốt nốt không sang trọng, không rực rỡ, nhưng chính vẻ đẹp giản
đơn, chất phác lại là biểu tượng xứng đáng nhất cho tâm hồn của người
Khmer Nam bộ. Ngọn thốt nốt lá xanh ôm lấy thân khẳng khiu tựa như người
đàn ông Khmer, mạnh mẽ, rắn rỏi đang nhìn về phía xa xăm.
Dù trong balo đã có trái và đường thốt nốt, tôi vẫn thích thú ghé vào một hàng bên đường mua nước thốt nốt ướp lạnh, làm một hơi hết nửa chai. Thứ thức uống ngọt ngào, thanh mát được lấy từ ngọn cây thốt nốt.
Ra khỏi đất An Giang, những chú bò trắng và hàng cây thốt nốt thưa dần. Chúng tôi ngang qua đường vào núi Cấm khi trời cũng ngả về chiều. Là ngọn núi cao nhất vùng Thất Sơn, núi Cấm khi xưa mang danh trắc trở và bí ẩn nay cũng đã khác, với đường lên to đẹp và những hàng cây thẳng, có phải một phần nhờ tượng Phật Di Lặc trên núi lớn nhất châu Á chăng?
Thật tiếc vì việc không cho phép xe cá nhân lên núi đã khiến tôi rời nơi này mà tiếp tục hành trình theo hướng khác, dù vậy, nhìn ngọn núi kỳ vĩ xa dần và mảnh trăng lưỡi liềm đang mọc trên nền trời xanh thẳm, tôi tự hứa chắc chắn sẽ quay lại khám phá vùng đất huyền thoại này một ngày không xa.
Sức hút kỳ lạ ở xứ Thất Sơn huyền thoại
(iHay) Dù không phải mùa nước nổi, miền đất bên bờ tây sông Hậu vẫn cuốn hút kỳ lạ. Ở nơi này, dường như mỗi mảnh đất, mỗi con người đều mang đậm màu sắc huyền thoại.
|
Hồ sen bát ngát trên đường đi Châu Đốc |
Châu Đốc là lựa chọn thăm thú đầu tiên của tôi trong hành trình đến An Giang. Nằm ở ngã ba nơi bờ Tây sông Hậu, Châu Đốc có một mặt giáp biên giới Campuchia và mang những đặc trưng của địa hình bán sơn địa, khiến nó trở nên độc đáo giữa vùng đồng bằng Nam Bộ này.
Háo hức đến đây không chỉ bởi sự huyền bí của dãy Thất Sơn, chúng tôi còn muốn tận mắt khám phá những huyền thoại trên đường mở cõi của ông cha ta từ thuở trước.
|
Một góc Châu Đốc nhìn từ đỉnh núi Sam |
Châu Đốc vẫn có những con đường ven sông yên ả, những dãy phố cũ bên hông chợ dường như bao đời chẳng đổi thay. Ấn tượng ấy có lẽ bắt nguồn từ vòng quay chậm rãi của những chiếc xe lôi đầy rẫy trên phố chăng?
|
Xe lôi là phương tiện giao thông được người dân rất ưa chuộng |
Châu Đốc giống như một cô gái trùm khăn chỉ lộ đôi mắt, vẻ đẹp e ấp, kín đáo ấy luôn khơi gợi trí tò mò của người đối diện.
Chúng tôi dành cả chiều muộn chỉ để nhẩn nha dạo chơi ven sông, ngắm hoàng hôn đỏ rực khuất dần sau làng cá bè và nhìn dân địa phương thong thả làm những công việc cuối ngày. Một người đàn ông chầm chậm bơi ghe kiểm tra lồng bè.
Vài ngư phủ buông cần câu cá dưới chân cầu. Tiếng những đứa trẻ í ới gọi nhau từ cầu ao sau nhà. Thỉnh thoảng, một chiếc thuyền máy hoặc xà lan rẽ nước lao đi vun vút. Từng đợt sóng lục bình dạt cả vào hai bên bờ, trôi lững lờ cạnh những ngôi nhà nổi như “khu vườn” xanh mướt mát.
|
Làng bè nổi là vùng nuôi cá tập trung trên sông Châu Đốc Ngôi nhà đơn độc giữa những mảng lục bình trôi Đông vui quần tụ thành xóm làng trên sông |
Mê tìm hiểu ẩm thực địa phương thật đấy nhưng dù sao máu phiêu lưu của tôi cũng chỉ có giới hạn mà thôi. Thay vào đó, chúng tôi theo anh đến một quán vỉa hè chật ních khách, gọi lẩu cháo cá lóc rau đắng và nhấp vài chén rượu chuối.
Lệ ở đây là cả chủ và khách đều cùng uống chung trong một ly, chẳng mấy chốc, rượu thì vơi mà những những câu chuyện thú vị của người bạn mới quen lại một đầy. Câu ca vọng cổ bằng chất giọng miền Tây ngọt ngào trong không gian ấy khiến tôi cảm thấy mình đã thân quen với nơi này từ lâu, mặc dù cho đến giờ tôi vẫn không thể nhớ nổi ca từ của nó.
|
Dạo chợ Châu Đốc sẽ cho bạn biết thêm rất nhiều điều về nơi đây Mắm làm từ các loại cá tươi ở đây ngon nức tiếng khắp vùng Nam bộ |
Vẻn vẹn chưa đầy 10 phút qua phà Châu Phong, chúng tôi sang thị xã Tân Châu, nơi có một ngôi làng cổ của người Chăm yên ả nằm ven sông. Chúng tôi ồ lên bất ngờ khi khám phá ra rằng người Chăm nơi đây không gắn liền với tháp chàm hay những bức tượng thần Shiva, họ theo đạo Hồi dòng chính thống và có nghề dệt độc đáo từ lâu đời.
Tòa thánh đường uy nghi nằm giữa làng, với màu trắng trang nghiêm và màu xanh yên bình, thanh thản. Trong chính điện, các tín đồ đang ngủ sau buổi cầu nguyện suốt đêm. Lúc tôi đến, họ sắp bước vào tháng lễ Ramadan truyền thống và có lẽ đang trong chuyến hành hương đi qua các thánh đường.
|
Một thánh đường Hồi giáo của người Chăm Islam ở An Giang Một tín đồ đang đọc sách trong hành lang thánh đường |
Vùng núi linh thiêng này là nơi có miếu Bà Chúa Xứ và lễ hội đua bò nổi tiếng gần xa. Giữa trưa, khách hành hương vẫn nối nhau leo từng bậc thang chinh phục đỉnh núi. Dưới chân, Miếu Bà cổ kính nghi ngút khói hương và tiếng cầu khấn thành kính. Không xa là lăng Thoại Ngọc Hầu, nơi an nghỉ của vị công thần thời Nguyễn đã có công khai phá vùng đất này.
Kênh Vĩnh Tế do ông xây dựng cũng là con kênh đào lớn nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đứng trước tấm bia đá đã mòn theo thời gian, tôi chợt nghĩ về “dấu chân ngàn năm đi mở đất” và tự hỏi, không biết vị tiền nhân ấy có biết rằng, hàng trăm năm sau, vùng đất hoang vu nơi biên ải xưa kia đã trở nên trù phú như thế nào không.
|
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam tổ chức vào tháng 4 AL hàng năm, thu hút hàng vạn lượt khách thập phương Lăng ông Thoại là công trình kiến trúc hiếm có còn nguyên vẹn từ thời Nguyễn ở Nam bộ |
|
Vào mùa nước nổi, có lẽ nơi này còn đẹp hơn gấp bội phần Sau những ngọn núi phía xa là biên giới với nước bạn Campuchia |
Niềm mong mỏi được ngắm những cây thốt nốt của tôi đã được đáp ứng trên đường đến cửa khẩu Tịnh Biên. Không đơn độc đứng bên những ngôi chùa tháp vàng, cũng không lác đác dọc lối đi, thốt nốt mênh mông khắp cánh đồng, hàng nối hàng trong tầm mắt. Thật ngạc nhiên là loài cây thô mộc và có phần xù xì này lại có thể cho con người nhiều thứ đến vậy.
Người dân nơi này hứng nước thốt nốt để chế biến ra đường, để giải khát, cơm trái để ăn, vỏ trái làm bánh, thân xẻ gỗ, lá lợp nhà, thậm chí có cả đũa, quạt và rượu thốt nốt. Tôi chợt nhớ có câu nói: Ở đâu có cây thốt nốt, ở đó có người Khmer và ngược lại.
|
Những đứa trẻ chăn bò vui đùa dưới bóng tán cây thốt nốt |
Dù trong balo đã có trái và đường thốt nốt, tôi vẫn thích thú ghé vào một hàng bên đường mua nước thốt nốt ướp lạnh, làm một hơi hết nửa chai. Thứ thức uống ngọt ngào, thanh mát được lấy từ ngọn cây thốt nốt.
Ra khỏi đất An Giang, những chú bò trắng và hàng cây thốt nốt thưa dần. Chúng tôi ngang qua đường vào núi Cấm khi trời cũng ngả về chiều. Là ngọn núi cao nhất vùng Thất Sơn, núi Cấm khi xưa mang danh trắc trở và bí ẩn nay cũng đã khác, với đường lên to đẹp và những hàng cây thẳng, có phải một phần nhờ tượng Phật Di Lặc trên núi lớn nhất châu Á chăng?
Thật tiếc vì việc không cho phép xe cá nhân lên núi đã khiến tôi rời nơi này mà tiếp tục hành trình theo hướng khác, dù vậy, nhìn ngọn núi kỳ vĩ xa dần và mảnh trăng lưỡi liềm đang mọc trên nền trời xanh thẳm, tôi tự hứa chắc chắn sẽ quay lại khám phá vùng đất huyền thoại này một ngày không xa.
|
An Giang sẽ tuyệt vời nhất nếu bạn khám phá bằng xe máy. Từ TP.HCM tới TP Long Xuyên là 200km, tới Châu Đốc thêm khoảng 50km. Bạn nên nghỉ lại tại những khu vực trung tâm như Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu. An Giang có rất nhiều cảnh đẹp như vùng núi Thất Sơn, đồi Tà Pạ, Búng Bình Thiên, cù lao Giêng, rừng tràm Trà Sư,... Về văn hóa – lịch sử có miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chùa Phước Điền, kênh Vĩnh Tế, khu di tích nhà mồ Ba Chúc, khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng,... Lễ hội Vía Bà tổ chức vào tháng 4 AL và tháng 8 là mùa lễ hội đua bò Bảy Núi. Đặc sản địa phương là các món ăn làm từ mắm như bún mắm, lẩu mắm, khô cá tra, đặc sản đường, bánh, chè thốt nốt, bún cá, cháo bò Tri Tôn,... Bạn nên lưu ý khi mua bán ở biên giới, chuẩn bị thuốc chống côn trùng khi tham quan rừng hay leo núi. |
Phượt ký của Trường Giang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét